Showing posts with label VOCABULARY. Show all posts
Showing posts with label VOCABULARY. Show all posts

Thursday, July 14, 2016

TỔNG HỢP TÀI LIỆU ÔN THI TOEIC TỪ MS HOA TOEIC


 Bộ Complete TOEIC (gồm 1000 câu đọc hiểu TOEIC Reading + Phần Listening)


 Lộ trình chinh phục 990 TOEIC dành cho người mất gốc


 Những chiến thuật làm bài Part 7 – TOEIC Reading


 Bộ ETS RC 1000



 Tài liệu tiếng Anh Giao Tiếp theo chuyên ngành

Sunday, October 25, 2015

KINH NGHIỆM HỌC TIẾNG ANH CỦA GS NGUYỄN VĂN TUẤN


Nhân dịp bàn chuyện tiếng Anh, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn một vài kinh nghiệm học tiếng Anh của tôi. Câu chuyện của tôi có lẽ khác với nhiều bạn hiện nay (vì tôi tự học tiếng Anh là chính, do thời trung học tôi học tiếng Pháp). Tuy tiếng Anh của tôi vẫn chưa tốt mấy, nhưng đủ để nói chuyện và viết lách cho thiên hạ hiểu. Cũng có khi đủ để chỉ lại các bạn chưa thông thạo cái ngôn ngữ rất quan trọng này.
Thật ra, từ ngày qua Úc đến nay, tôi chẳng bao giờ có dịp học tiếng Anh một cách bài bản trong trường lớp. Những ngày đầu mới đến hostel dành cho người tị nạn, tôi cũng được cho đi học một lớp tiếng Anh, nhưng là loại dành cho người đi xin việc. Lúc nào cũng “How are you today”, “I am fine, thank you”, “Where were you from?”, “How long have you been here?”, v.v. Chỉ đâu một tuần là tôi bỏ học, chịu không nổi với cách dạy như thế.
Tôi bắt đầu tự học. Nói đúng ra, tôi bắt đầu tự học từ lúc còn trong trại tị nạn bên Thái Lan. Lúc đó, tôi làm thiện nguyện trong một thư viện trong trại tị nạn do một dòng tu người Mĩ điều hành, suốt ngày chỉ lo sắp xếp sách vở cho thứ tự, và sếp tôi là một người Khmer. Anh chàng Khmer này rất giỏi tiếng Anh và tiếng Pháp, còn tôi thì dốt tiếng Anh, nên bị anh ấy xem thường là dễ hiểu.
Nhưng chính thái độ xem thường của anh sếp đó là động cơ cho tôi phải học tiếng Anh. Tôi thề với lòng là một ngày nào đó "Mày sẽ biết ai là ai", và thế là tôi lao vào học sau những giờ bận rộn với công việc. May mắn cho tôi là có một "đồng môn" người Huế cũng học tiếng Anh như tôi, và anh ấy tên là Ẩn (sau này cũng định cư ở Úc, Melbourne, mà hơn 30 năm qua tôi chưa liên lạc được). Anh Ẩn là người Việt Nam tiêu biểu: ham học và chịu khó học. Anh ấy nói với tôi là học tiếng Anh thì phải HỌC TỪNG CHỮ, và phải học từ cái gốc, chứ học kiểu của tôi (quan tâm đến văn phạm) là không ổn. Mỗi ngày, chúng tôi đố nhau chữ này có nghĩa là gì, xuất phát từ đâu, dùng ra sao, v.v. Thời còn trẻ hay đố nhau theo kiểu VN, và đó cũng là động lực để biết thêm. Học mà có bạn thì phải nói là rất lợi hại. Không đầy 6 tháng là tôi đã tự thấy mình rất khá và có khả năng "đương đầu" với anh sếp Khmer. Chúng tôi lúc đó thỉnh thoảng đố anh ta vài chữ, và anh ta bí, thế là chúng tôi khoái chí cho rằng mình hơn người! Bây giờ ngồi nghĩ lại thì cái trò đố của anh em tôi với anh sếp Khmer thật là ấu trĩ, con nít, và bậy bạ hết sức. Kiểu Trạng Quỳnh, chỉ học được vài cái mẹo vặt mà đã tự hào ta đây "ngon lành", thì đúng suy nghĩ tầm con nít. Nhưng như tôi nói, thời trẻ thì ai cũng có lần dại khờ, và tôi cũng không phải là ngoại lệ. (Đó cũng chính là lí do tôi viết bài về "học nói, học viết").
Kinh nghiệm của tôi gói gọn trong 4 điểm: từ điển & trầm mình trong tiếng Anh, học từng chữ một, mạnh dạn nói, và học từ báo chí & truyền thông.




1. Có một cuốn từ điển Anh – Anh, và một cuốn sách hướng dẫn sử dụng tiếng Anh.
Kinh nghiệm học tiếng Anh của tôi là phải trầm mình trong thế giới tiếng Anh. Trong một thời gian dài, tôi không hề tiếp xúc với tiếng Việt, không đọc báo tiếng Việt, không đọc sách tiếng Việt (thời đó cũng chẳng có mà đọc!), không nghe đài tiếng Việt (cho đến bây giờ tôi vẫn không nghe đài phát thanh tiếng Việt ở đây). Thay vào đó, thả mình trong thế giới tiếng Anh, với sách báo, radio, và tivi. Cần mở ngoặc thêm để nói là thời đó thì dễ, còn bây giờ thì chắc khó, do có internet làm sao lãng việc học.
Phải có một cuốn từ điển tốt để học tiếng Anh. Quên đi những từ điển Anh – Việt, hay tệ hơn nữa là Việt – Anh! Tìm một cuốn từ điển Anh – Anh. Một từ điển tốt có thể ví như kinh thánh! Thời còn ở trại tị nạn, tôi may mắn tiếp xúc cuốn từ điển LONGMAN, và tôi thích cuốn này ngay từ ngày đầu. Hình như cuốn này được soạn cho người nước ngoài (tức không dùng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ). Từ điển giải thích thật rõ ràng về ý nghĩa của chữ, cách dùng như thế nào, và cách phát âm. Thời đó, rất hiếm có một cuốn từ điển nào đầy đủ và thực tế như Longman. Sau này khi sang Úc và cho đến nay tôi vẫn dùng Longman làm từ điển.
2. Học từng chữ và học từ gốc
Mỗi ngày, cố gắng học một chữ tiếng Anh. Nhưng phải học cẩn thận và học cho hết chữ đó. Tôi muốn nói đến ngoài việc học để biết nghĩa của chữ đó, còn phải học (a) nguồn gốc của chữ này đến từ đâu; (b) những biến thể tính từ, động từ, danh từ của chữ; và (c) cách sử dụng như thế nào. Chẳng hạn như học chữproduce (động từ và danh từ), cần phải học thêm những biến thể như production, product, productive, v.v. phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ. Từ điển Longman rất có ích cho việc học này. Do đó, nói là học một chữ một ngày, nhưng thật ra là có khi học được 10 chữ. Cách học này rất tốt, vì nó giúp cho chúng ta có căn bản tốt và biết chữ từ gốc chứ không phải từ ngọn. Biết cái gì từ gốc vẫn hay hơn biết từ ngọn.
Ngữ vựng cực kì quan trọng. Theo tôi, có một kho tàng ngữ vựng tốt còn có giá trị hơn là am hiểu cú pháp và văn phạm. Thời gian chúng ta có thể tiếp thu ngữ vựng có hạn, còn thời gian chúng ta học văn phạm thì không giới hạn. Do đó, tranh thủ mọi cơ hội để học ngữ vựng.
3. Mạnh dạn nói
Học tiếng Anh là phải học nói. Nhưng một trong những điểm yếu của người Việt là chúng ta phát âm không tốt, từ đó dẫn đến ngại nói chuyện, vì sợ người đối diện không hiểu. Cá nhân tôi cũng trải qua kinh nghiệm này khi còn làm trong nhà bếp. Những ngày đó, tôi rất yếu về tiếng Anh và nói nhiều khi chẳng ai hiểu, nên cứ mỗi lần có điện thoại reo là tôi rất … sợ. Sợ trả lời vì mình nói mà bên kia không hiểu thì rất phiền phức cho công việc. Nhưng anh bạn làm chung biết điểm yếu đó và muốn giúp tôi, nên cứ mỗi lần điện thoại reo, anh ta chỉ tôi phải nghe và trả lời điện thoại. Ấy thế mà vài lần tôi quen, quen với những câu chữ mình phải/nên nói khi bắt điện thoại, quen với phát âm, quen với chữ trong nghề (lúc nào cũng học ngữ vựng), và quen với cách nhấn giọng, v.v. Từ quen tôi trở thành tự tin hồi nào không hay. Do đó, bài học tiếng Anh có hiệu quả là phải mạnh dạn nói. Nói sai thì sửa. Nói người ta không hiểu thì nói lại. Nói chữ nào người ta không rõ thì mình đánh vần cho họ hiểu.
Tôi cũng phải mở ngoặc để chia sẻ một kinh nghiệm lí thú ở đây về chuyện phát âm. Có một số người ngoại quốc, vì lí do nào đó (có thể muốn trêu chọc hoặc muốn làm nhục) nên giả bộ họ không hiểu mình nói. Cách họ làm thường là “I beg your pardon” 2,3 lần, hoặc nghễnh tai làm như họ không nghe hay nghe mà không hiểu. Tôi có quá nhiều kinh nghiệm, nên chỉ cần nhìn qua là biết người không hiểu thật, hay là người muốn làm nhục mình. Họ đặc biệt thích làm điều đó (hạ nhục / trêu chọc) với các nạn nhân người Á châu. Nếu chúng ta tự tin rằng chúng ta nói rõ mà họ làm điều đó, thì chúng ta có thể nói thẳng cho họ biết “đừng chơi trò với tao”.
Tôi đã làm vài lần với vài người. Có một lần một tay người Úc, hắn cứ đưa cái tai gần tôi làm như hắn không hiểu tôi nói gì; cách tôi phản ứng là tôi thản nhiên ghé vào tai hắn và nói thật lớn để mọi người chung quanh nghe: “Tao nói cho hàng trăm, hàng ngàn người, và họ hiểu & ghi chép những gì tao nói. Vậy thì mày đừng có giả bộ không hiểu nhé. Cái trò này xưa lắm con ạ.” Một lần khác trong hội nghị, tôi cũng bị một người giả bộ “I beg your pardon” 2 lần dù tôi đã giải thích khá rõ và ban chủ toạ cũng đồng ý, nhưng đến lần thứ hai thì tôi mất kiên nhẫn và có phản ứng, tôi nói lớn: "Cả hội trường này gần 1000 người, ai cũng hiểu tao nói, những thuật ngữ tao dùng dân trong nghề đều biết, vậy mà mày không hiểu và không biết, tao nghĩ đó là vấn đề của mày chứ không phải vấn đề của tao, tao không có nhu cầu nói lại, ok." Đừng bao giờ tỏ ra thấp khi đối đầu với những kẻ muốn gây chuyện.
4. Học từ báo chí và truyền thông
Báo chí và truyền thông là phương tiện rất có ích để học phát âm. Thời 1980s, dĩ nhiên là chưa có internet, nên mỗi ngày tôi phải mua tờ nhật báo Sydney Morning Herald về, và đọc những bản tin chính. Đó là một tờ báo cực kì nổi tiếng và hay. Chắc chắn không bằng tờ New York Times, nhưng phong phú thì chẳng kém gì Los Angeles Times. Thông thường, mỗi bản tin thời sự, họ có dùng một vài chữ “mới” (mới với tôi), hay những chữ mang tính địa phương. Dĩ nhiên, tôi chưa đủ trình độ để hiểu hết nội dung bản tin, nhưng mò mẩm bằng từ điển thì cũng nắm được những bản tin chính. Chẳng hạn như có lần báo chí nói đến thái độ của đương kim thủ tướng lúc đó (Paul Keating) là recalcitrant. Tôi chẳng hiểu chữ này có nghĩa gì đến khi truy trong từ điển Longman. Nhưng mỗi ngày “khám phá” được một chữ mới như thế làm cho mình có lí do để vui sống và học tập.
Điều quan trọng là biết phát âm những chữ mới, và tôi phải đợi đến buổi chiều, bật tivi để nghe người đọc tin, và học cách phát âm từ họ. Ở Úc (và nơi khác chắc cũng vậy), các bản tin chính in trên mặt báo thường được các đài truyền hình phát lại trong bản tin buổi tối của họ. Mặc dù họ không dùng những chữ giống như trên mặt báo (vì như thế là đạo văn) nhưng cách họ phát âm tên của nhân vật, những danh từ quan trọng trong câu chuyện, hay những chữ mà tôi rõ nghĩa nhưng không rõ cách phát âm, tôi đều học qua bản tin này. Có lần tôi không biết đọc chữ allowance ra sao, thì may quá, buổi chiều có tranh cãi về vụ này nên tôi mới biết cách phát âm. Học từ báo chí và tivi phải nói là rất có ích.
Học từ những bài/sách chính luận
Văn chính luận khác với văn tin tức. Do đó, vấn đề không chỉ là đọc tin, mà học cách viết trong các bài chính luận. Những tay bỉnh bút viết chính luận thường là bậc thầy về tiếng Anh. Họ rất giỏi về viết và từ ngữ. Không chữ nào họ dùng trong bài viết là thừa. Có những người kì cựu như Alan Ramsey thì mỗi bài viết là mỗi bài học tuyệt vời cho tôi. Tôi học cách cấu trúc câu văn, dùng chữ cho tốt, và tinh tế. Sau này, khi hướng dẫn các bạn thế hệ sau về cách viết bài báo khoa học tôi vẫn lấy ví dụ của Alan Ramsey ra làm ví dụ.
Sau này, tôi còn học thêm một người khác về kĩ năng tiếng Anh: người đó là Samuel P. Huntington. Ông là một giáo sư chính trị học nổi tiếng của Mĩ. Nhưng ngoài chuyên môn đó, ông là một người viết văn tuyệt vời. Các bạn nếu có dịp nên tìm đọc những bài luận văn của ông ấy, và sẽ thấy từ cấu trúc ý tưởng, đến triển khai bằng tiếng Anh, tất cả đều xảy ra một cách logic. Quan trọng hơn là ông dùng chữ chính xác, những câu văn trong đoạn văn ăn khớp với nhau một cách nhịp nhàng, không chê vào đâu được. Tôi thấy mỗi bài luận văn của ông là mỗi bài học mới về viết bằng tiếng Anh.
5. Tránh cách nói Việt Nam, luyện cách nói Anh
Tôi đã nói ở trên là học từ từ điển Anh - Anh, tránh Việt - Anh! Một điểm rất quan trọng mà tôi thấy từ chính tôi và các bạn mới học tiếng Anh là thói quen dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Nói cách khác, mình nghĩ bằng tiếng Việt, rồi dùng đầu chuyển sang tiếng Anh bằng nói hay viết. Rất dở. Bởi vì học như thế thì mình chỉ là người Việt nói tiếng Anh, chứ chưa hội nhập được. Cần phải học tiếng Anh như người Anh, Mĩ. Phải học cách nói và viết của người Anh. Chẳng hạn như chúng ta có thói quen diễn giải nguyên nhân rồi mới đi đến kết luận, còn người Tây họ kết luận rồi mới nói nguyên nhân. Chú ý trong thư xin việc, người Tây đi thẳng vào vấn đề là nói mục đích xin việc, rồi mới lí giải lí do (còn người mình thì làm ngược lại, phải đọc hết thư mới biết mình muốn gì!)
Tuyệt đối vứt đi những cách nói rất "XHCN". Trong tiếng Anh những chữ hay khái niệm như "phát huy", "định hướng", "phấn đấu", "nghệ sĩ nhân dân", "bà mẹ anh hùng", "anh hùng lao động", "dưới ánh sáng", "đường lối cách mạng", "tạo điều kiện", "phân công", v.v. là rất xa lạ với người Tây, không mấy ai hiểu hay muốn hiểu đâu. Nói ra mấy chữ đó chỉ tổ làm người ta cười mình.
6. Học là phải GHI CHÉP
Một thói quen đáng buồn ngày nay ở giới trẻ là họ không tập thói quen ghi chép, có lẽ vì họ chỉ đọc trên mạng hay màn hình máy tính, và nghĩ thế là đã nhập tâm. Thật là sai lầm nếu nghĩ như thế. Không thể nào nhập tâm mà không dùng đến ... tay. Khi viết xuống mình có thì giờ suy nghĩ, và biến thành câu chữ, do đó nhập tâm rất tốt. Phải có sẵn tờ giấy hay cái note để viết xuống những gì hay ho trong ngày. Tập viết cho quen, để trước hết là nhập tâm, và sau là luyện chữ viết coi cho được. Mỗi lần đọc một văn bản viết tay của các bác sĩ trẻ, tôi rất giận trong lòng, vì họ viết chữ xấu quá. Thời của tôi, viết chữ xấu là bị thầy gõ tay cảnh cáo!
Những kinh nghiệm trên, dĩ nhiên, chỉ áp dụng cho những người mới học tiếng Anh. Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là học phải có cuốn sổ ghi chép. Đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ đọc và nhập tâm là đủ. Đừng bao giờ nghĩ như thế! Tôi nghiệm ra là học là phải có sờ, phải viết xuống, phải có “action” thì mới có hiệu quả. Sờ con chữ có nghĩa là lấy bút màu tô đậm những chỗ mình thích. Viết xuống để mình nhớ, để có cảm nhận trực tiếp. Nếu chỉ đọc một qui định văn phạm thì chưa đủ, mà phải viết xuống thì mới dễ nhớ. Viết có hiệu quả rất tuyệt vời trong cảm nhận mà có khi chúng ta không để ý.
Tôi nghiệm ra một điều là cách sử dụng tiếng Anh cho đúng còn quan trọng hơn cả văn phạm tiếng Anh. Cũng trong thời còn ở trong trại tị nạn Thái Lan tôi may mắn tiếp xúc với cuốn Practical English Usage của Michael Swan, đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Thoạt đầu tôi chỉ đọc để nhập tâm, nhưng sau này tôi thấy như vậy chưa khá, phải viết xuống. Viết xuống bằng tiếng Việt. Sau vài tháng tôi phát hiện quyển vở của mình đã trở thành một bản dịch của cuốn sách mình học! Bài học ở đây là cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và nếu cần dịch sang tiếng Việt.
7. Đặt mục tiêu học mỗi ngày
Nguyên tắc học hành là phải có outcome – thành quả. Mỗi ngày phải học được một cái gì mới, hoặc là một chữ mới, hoặc là một câu văn hay, hoặc là một luật văn phạm, v.v. nhưng phải có một cái mới. Học mà không có cái mới thì rất dễ chán. Do đó, phải tự đặt mục tiêu outcome mỗi ngày như tôi vừa nói.
***
Tiếng Anh là một chìa khoá rất quan trọng trong khoa học. Thật ra, có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ khoa học. Hầu hết các hội nghị khoa học quốc tế, kể cả y khoa, đều dùng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Một thống kê mới công bố năm ngoái cho biết hơn 95% tập san khoa học quốc tế dùng tiếng Anh. Ngay cả ở những nước tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ vẫn dùng tiếng Anh như là một ngôn ngữ khoa học. Do đó, am hiểu tiếng Anh là một lợi thế rất đáng kể trong hoạt động khoa học.
Trên đây là vài kinh nghiệm cá nhân về tự học tiếng Anh của tôi. Mỗi người có vài kinh nghiệm, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân. Nếu tập hợp nhiều kinh nghiệm và phân loại tôi nghĩ sẽ giúp ích rất nhiều người. Nói ví von một chút, tiếng Anh là một chìa khoá quan trọng để mở cánh cửa tri thức. Do đó, trang bị cho mình một số kĩ năng quan trọng về tiếng Anh là một lợi thế vô cùng quan trọng khi tiếp xúc với người nước ngoài. Hi vọng những kinh nghiệm này có thể giúp ích các bạn đôi ba điều trong việc tự học tiếng Anh.


Sunday, August 23, 2015

96 CÁCH NGỢI KHEN TRONG TIẾNG ANH

1. You're on the right track now
2. You've got it made
3. Super!
4. That's right!
5. That's good!
6. You're really working hard today
7. You're very good at that
8. That's coming along nicely
9. Good work!
10. I'm happy to see you working like that
11. That's much, much better!
12. Exactly right
13. I am proud of the way you worked today
14. You're doing that much better today
15. You've just about get it
16. That's the best you've ever done
17. You're doing a good job
18. That's it!
19. Now you've figured it out
20. That's quite an improvement
21. Great!
22. I knew you could do it
23. Congratulation!
24. Not bad
25. Keep working on it
26. You're improving
27. Now you have it!
28. You real learning fast
29. Good for you!
30. Couldn't have done it better myself
31. Are you proud of yourself?
32. One more time and you'll have it
33. You really make my job fun
34. That's the right way to do it
35. You're getting better everyday
36. You did it that time!
37. That is not half bad
38. Nice going
39. You haven't missed a thing!
40. WOW!!!
41. That's the way!
42. Keep up the good work
43. Terrific!
44. Nothing can stop you now
45. That's the way to do it
46. Sensational
47. You've got your brain in gear today
48. That's better

49. That was first class work
50. Excellent!!
51. That's the best ever
52. You've just about mastered it
53. Perfect!
54. That's better than ever
55. Much better
56. Wonderful!!
57. You mist have been practicing
58. You did it very well
59. Fine
60. Nice going
61. You're really going to town
62. Outstanding!
63. Fantastic!
64. Tremendous!
65. That's how to handle that
66. Now that's what I call a fine job
67. That's great
68. Right on!
69. You're really improving
70. You're doing beautifully!
71. Superb!
72. Good remembering
73. You've got that down pat
74. You certainly did it well today.
75. Keep it up!
76. Congratulation. You got it right!
77. You did a lot of work today
78. Well look at you go
79. That kind of work makes me happy
80. I am very proud of you.
81. Marvelous!
82. I like that
83. Way to go
84. Now you have the hang of it
85. You're doing fine
86. Good thinking
87. You are really learn a lot
88. Good going
89. I have never seen anyone do it better
90. Keep on trying
91. You outdid yourself today
92. I think you're doing the right thing
93. That's really nice
94. That's good (boy / girl)
95. You figured that out fast
96. You remembered!

Saturday, August 22, 2015

NHỮNG CÂU THÔNG DỤNG HẰNG NGÀY CỦA NGƯỜI MỸ

1. After you: Mời ngài trước.
Là câu nói khách sáo, dùng khi ra/ vào cửa, lên xe,…
2. I just couldn’t help it. Tôi không kiềm chế được / Tôi không nhịn nổi…
Câu nói hay ho này dùng trong những trường hợp nào?
Ví dụ: I was deeply moved by the film and I cried and cried. I just couldn’t help it.
3. Don’t take it to heart. Đừng để bụng/ Đừng bận tâm
Ví dụ: This test isn’t that important. Don’t take it to heart.
4. We’d better be off. Chúng ta nên đi thôi
VD: It’s getting late. We’d better be off .
5. Let’s face it. Hãy đối mặt đi / Cần đối mặt với hiện thực
Thường cho thấy người nói không muốn né tránh khó khăn.
Ví dụ: I know it’s a difficult situation. Let’s face it, OK?
6. Let’s get started. Bắt đầu làm thôi
Nói khi khuyên bảo: Don’t just talk. Let’s get started.
7. I’m really dead. Tôi mệt chết đi được
Nói ra cảm nhận của mình: After all that work, I’m really dead.
8. I’ve done my best. Tôi cố hết sức rồi
9. Is that so? Thật thế sao? / Thế á?
Biểu thị sự kinh ngạc, nghi ngờ của người nghe
10. Don’t play games with me! Đừng có giỡn với tôi.
11. I don’t know for sure. Tôi cũng không chắc
Eg:
Stranger: Could you tell me how to get to the town hall?
Tom: I don’t know for sure. Maybe you could ask the policeman over there.
12. I’m not going to kid you.Tôi đâu có đùa với anh
anhKarin: You quit the job? You are kidding.
Jack: I’m not going to kid you. I’m serious.
13. That’s something. Quá tốt rồi / Giỏi lắm
A: I’m granted a full scholarship for this semester.
B: Congratulations. That’s something.
14. Brilliant idea! Ý kiến hay! / Thông minh đấy!
15. Do you really mean it? Nói thật đấy à?
Michael: Whenever you are short of money, just come to me.
David: Do you really mean it?
16. You are a great help. Bạn đã giúp rất nhiều
17. I couldn’t be more sure. Tôi cũng không dám chắc
18. I am behind you. Tôi ủng hộ cậu
A: Whatever decision you’re going to make, I am behind you.
19. I’m broke. Tôi không một xu dính túi
20. Mind you! Hãy chú ý! / Nghe nào! (Có thể chỉ dùng Mind.)
Ví dụ: Mind you! He’s a very nice fellow though bad-tempered


Sunday, February 1, 2015

TỪ VỰNG MIÊU TẢ XU HƯỚNG TRONG TASK 1 IELTS

Bạn đang muốn đạt điểm trên 6.0 trong phần viết của bài thi IELTS? Việc đầu tiên hãy nâng cao vốn từ vựng Acadamic. Sau đây Oxford English UK Vietnam xin cung cấp cho bạn một số từ vựng trong phần Task 1 của bài thi IELTS diễn tả về thay đổi xu hướng như sau:
Trong bài thi IELTS phần viết task 1, đề bài có thể yêu cầu bạn mô tả biểu đồ nói về sự thay đổi qua thời gian(changes). Để làm tốt dạng bài này bạn cần phải sử dụng ngôn ngữ mô tả sự thay đổi (language of change) và những cấu trúc câu phổ biến trong IELTS writing task 1. Ngoài ra người viết cũng cần nắm vững về cách diễn đạt các thì trong phần viết IELTS task 1 này.
Đặc điểm nhận biết dạng bài Changes: biểu đồ có ít nhất 2 mốc thời gian do đó việc miêu tả những thay đổi chính kết hợp với sự so sánh các mốc thời gian là vô cũng quan trọng (bằng cách dùng dạng so sánh của tính từ hoặc trạng từ). Số liệu trong dạng bài này thường được cung cấp dưới đơn vị thích hợp hoặc dưới dạng phần trăm.
Movement upwards : increase , go up, climb, rise
Movement downwards: decrease, go down, decline, drop
No movement: remain stable, stabilise
Reach the highest point of: reach a peak at
Reach the lowest point of: bottom at
Fluctuate

1.Describing trends: Sử dụng Nouns- Danh từ and Verbs-Động từ

Trend- Xu hướng là sự thay đổi hay sự chuyển động theo một hướng nhất định. Những thay đổi này thường được thể hiện trong mục số ví dụ như dân số, khối lượng sản xuất, thất nghiệp. Có ba xu hướng cơ bản như sau: up, down, remain
Trong mô tả biểu đồ, ta có thể sử dụng một số mẫu câu được gợi ý như sau:
1. (Time period) + Subject + Verb to describe change + Adverb to describe the degree/ the speed of change.
E.g: Between May and October, sales decreased slightly.
2. (Time period) + “There” to introduce the subject + article + Adjective to describe the degree/ speed of change + Noun to describe change + in “what”
VD: From May to October, there was a slight decrease in sales
VD: From May to October there was a slight decrease in sales.
Bảng dưới đây cung cấp cho bạn một số danh từ và động từ dùng cho việc diễn tả xu hướng (Lưu ý rằng việc sử dụng các thì trong IELTS writing task 1 thay đổi tùy theo bối cảnh thời gian) 
Direction
Verbs
Nouns (+Preposition)
Go Up
1.Go up
Followed by prepositions:
From…(number/%) to...number/%) 
Go….(number/%)
By…(number/%)
To rise
To increase
To go up
To grow
To climb
2.Go up a lot
To surge
To take off
To shoot up
To soar
To rocket
To jump
To leap
To boom
To bounce
1.Go up
Followed by prepositions:
From…(number/%) to…umber/%)
In+ “what”
A rise
An increase
Show an upward trend
A growth
Show an upturn
2.Go up a lot
Show a surge
Show an upsurge
A jump
A leap
A boom
A bounce
Go Down
1.Go down
Followed by prepositions:
From…(number/%) to…(number/%) 
To….(number/%)
To decrease
To fall
To decline
To drop
To reduce
To go down
To slip
To dip
2.Go down a lot
To slummet
To slump
To crash
To sink
To tumble
To plunge
1.Go down
Followed by prepositions:
From…(number/%) to…(number/%) 
     In+ “what”
A decrease
A fall
A decline
A drop
A reduction
A downturn
A slip
A dip
A downward trend
2.Go down a lot
A slummet
A slump
A crash
A sink
A tumble
A plunge
Remain
No change
Followed by “at” (number/%)
To level off 
To flatten out
To stagnate
To stabilize
To stay/ To remain/ To keep constant/ stable/ steady /unchanged/the same level
No change
Followed by “at” (number/%)
A leveling off
No change
Show stability
Change of direction
Followed by “at”, “of”
To peak at
To reach a peak of
To bottom out at
To hit a low point/a trough/ the lowest/ the largest of
To flatuate/ vary around
To show some flatuation (variation)
To stand at ( focus on a particular point)
To plateau/ to reach a plateau at

2.Khi muốn miêu tả chi tiết hơn về mức độ của sự thay đổi, ta cần dùng thêm Adjectives- Tính từ and Adverbs- Trạng từ


Degree
Adj- Tính từ
Adv- Trạng từ
Very extensive change
dramatic
Dramatically
Huge
Enormous
Enormously
tremendous
Tremendously
Extensive change
Substantial
Substantially
Considerable
Considerably
Remarkable
Remarkably
Significantly
Significantly
Avarage change
Noticeable
Noticebly
Marked
Markedly
moderate
Moderately
Small change
Slight
Slightly
Small
minimal
minimally
Miêu tả tốc độ của sự thay đổi:
Adjectives
Adverbs
Slow
slowly
Gradual
Gradually
Steady
Steadily
Sudden
Suddenly
Quick
Quickly
Swift
Swift
rapid
Rapidly
Lưu ý:
  • “Soar “and “rocket” là hai động từ rất mạnh mẽ mô tả tăng lên khá cao. “Rocket” là bất ngờ hơn. Khi sử dụng từ này bạn không cần thêm trạng từ
  •  “Leap” cho thấy một sự gia tăng lớn và đột ngột. Với động từ này cũng không cần thêm trạng từ.
  • “Climb là một động từ tương đối trung lập có thể được sử dụng với các trạng từ bên dưới.
  •  “Plummet” là từ mạnh nhất để miêu tả sự giảm xuống. Nó có nghĩa là giảm rất nhanh chóng và một chặng đường dài. “Drop”  and “drop” are normally used for fairly small decreases
  •  “Drop” and “Dip” cũng thường được dùng như một danh từ. Ví dụ như “a slight dip”,  “a sudden drop”
  •  “sudden” and “sharp” có thể được dùng cho những thay đổi nhẹ nhưng diễn ra đột ngột.
  • “spectacular” and “dramatic” là những tính từ mạnh dùng miêu tả những thay đổi rất rất lớn.
  • “marginal” is a particularly useful word for describing very small changes
  •  “overall” có thể được dùng để miêu tả sự thay đổi trong suốt thời gian dài, rất hữu ích và hay được sử dụng trong phần mở bài và phần kết luận.
  • “upward” and “downward” là những tính từ, trạng từ của nó là “upwards” and “downwards” 
Ngoài việc nắm được bố cục của phần TASK 1 trong bài thi IELTS và định hướng được bài viết của mình, thì sử dụng từ vựng để miêu tả xu hướng là vô cùng quan trọng để mang lại cho bạn các điểm số đang kể.
- See more at: http://oxford.edu.vn/goc-tieng-anh/kinh-nghiem-hoc-tieng-anh/tu-vung-mieu-ta-ve-xu-huong-trong-task-1-cua-bai-thi-ielts-583.html#sthash.L9FEEsbX.dpuf

Friday, December 26, 2014

CẦN BAO NHIÊU QUYỂN SỔ TAY ĐỂ LUYỆN THI IELTS

Hãy kiểm tra lại xem bạn đã có đủ “hàng” để chiến đấu với IELTS chưa nhé. Sau đây là 5 tài liệu bắt buộc phải có khi luyện IELTS:
1. Từ điển Anh-Anh (có ví dụ cách sử dụng từ)
2. Những quyển luyện đề.
(Ví dụ như bộ Cambridge IELTS, IELTS Practice Test của Thompson, Peter May, IELTS Practice Test Plus,…)
3. Sách ngữ pháp
(mình thì dùng quyển Practical English Usage)
4. Sách học từ vựng
(bộ Key Words for IELTS, Academic Vocabulary in Use)
5. Từ điển Anh-Việt – Việt-Anh
Bên cạnh đó, bạn còn phải chuẩn bị 4 quyển sổ tự học sau đây:
1. Sổ từ vựng
2. Sổ Writing
3. Sổ Ideas cho Speaking & Writing
4. Sổ Reading & Listening Strategies
Cho dù có đi luyện thi ở trung tâm/thầy cô hay không thì việc tự học thêm ở nhà và chuẩn bị những quyển sổ tự học này là không thể thiếu. Hãy tự xem lại xem mình đã có đầy đủ chưa nhé:
1. Sổ từ vựng: chia theo topics. Lấy từ vựng từ đâu? Có 2 nguồn chính để tìm từ vựng:
– Các bài đọc trong sách IELTS/trên mạng. Chỉ cần gõ 1 cụm từ quan trọng (ví dụ “The importance of Education”, “Education issues”) là sẽ ra rất nhiều web hay để vào đọc lấy ideas và từ vựng.
– Sách từ vựng: mình đã giới thiệu sách phân theo trình độ ở đây:http://www.oni.vn/TVdE8
2. Sổ Writing: sổ này có 2 mục đích, 1 là để luyện viết bài, 2 là để chép lại các cấu trúc câu, các cụm từ hay.
– Viết bài vào sổ và nhờ thầy cô, bạn bè giỏi chấm giúp => Highlight những lỗi mình hay sai để lần sau tránh => Quan trọng nhất là phải sửa lại những lỗi sai đó (có thể nhờ bạn bè/thầy cô hướng dẫn cách sửa) => Thường xuyên đọc đi đọc lại những bài mình viết để nhớ kỹ những lỗi sai và cách sửa.
– Chép lại các cấu trúc câu, các cụm từ hay từ các bài viết mẫu trong sách IELTS Cambridge, Write Right, Mat Clark. Ví dụ những phrase mẫu cho phần introduction, câu mẫu thể hiện 1 số liệu đặc biệt trong Task 1 (vd như One particularly interesting fact highlighted by the figure is that…).
3. Sổ Ideas cho Speaking & Writing: đề Speaking và Writing cũng chỉ xoay quanh trong một số chủ đề chính (Education, Technology, etc.) cho nên việc chuẩn bị trước cho mình kiến thức nền tảng về những chủ đề này sẽ giúp các bạn tiết kiệm thời gian Brainstorm ideas đồng thời luyện được kỹ năng sắp xếp ý logic.
Do đó, tập hợp lại các đề Writing và Speaking => viết sẵn dàn ý cho các đề này. Hồi trước mình chuẩn bị khoảng 50 đề Writing Task 2 và 20 đề Speaking Part 2 theo cách này đó.
4. Sổ Reading & Listening Strategies: các bước làm từng dạng câu hỏi, những điều cần lưu ý đối với mỗi dạng câu hỏi. Trong quá trình luyện đề nếu phát hiện ra thêm tricks nào trong đề thì cũng note lại ngay nhé.
Ngày xưa, mỗi khi luyện đề mình luôn để cuốn sổ này kế bên. Làm tới dạng câu hỏi nào, mình lật xem các bước làm bài và lưu ý để làm theo. Cứ như thế đến khi vào phòng thi là mình thuộc hết cách làm và làm khá nhuần nhuyễn.